Nhiều doanh nghiệp sử dụng công nhân thời vụ, lao động bán thời gian hoặc chỉ thuê người làm việc một số ngày trong tháng thường đặt câu hỏi: Công nhân làm dưới 14 ngày/tháng có phải đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc không?
Câu trả lời là không thể căn cứ đơn thuần vào số ngày làm việc để kết luận có phải đóng BHXH hay không. Quy định “14 ngày” trong Luật BHXH 2024 chủ yếu liên quan đến trường hợp người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, chứ không phải quy định “làm dưới 14 ngày thì được miễn đóng BHXH”.
Công nhân làm dưới 14 ngày có phải đóng BHXH không?
Từ ngày 01/07/2025, Luật BHXH 2024 mở rộng và quy định cụ thể hơn về các nhóm người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Việc xác định nghĩa vụ đóng cần căn cứ vào quan hệ lao động, loại hợp đồng, đối tượng tham gia và tiền lương làm căn cứ đóng, thay vì chỉ nhìn vào số ngày công trong tháng. Nghị định 158/2025/NĐ-CP là văn bản hướng dẫn chi tiết về BHXH bắt buộc.
Đặc biệt, người lao động làm việc không trọn thời gian vẫn có thể thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Ví dụ 1: Công nhân làm 10 ngày/tháng
Doanh nghiệp ký hợp đồng lao động với công nhân A. Theo thỏa thuận, A làm việc không trọn thời gian và trong tháng chỉ làm 10 ngày. Trong những ngày không làm việc, A không thuộc trường hợp nghỉ không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên theo quan hệ lao động mà đơn giản là lịch làm việc của A chỉ có 10 ngày.
Trong trường hợp này, không thể nói A không phải đóng BHXH chỉ vì chỉ làm 10 ngày. Nếu A thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và đáp ứng điều kiện về tiền lương thì vẫn phải thực hiện đóng BHXH theo quy định.

Nói cách khác, 10 ngày làm việc không phải là “mốc miễn BHXH”.
Ví dụ 2: Công nhân đang làm việc nhưng nghỉ không hưởng lương từ 14 ngày trở lên
Công nhân B thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Trong tháng 8, B chỉ làm việc một số ngày đầu tháng, sau đó nghỉ không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên.
Trường hợp này khác hoàn toàn trường hợp của A. Theo khoản 5 Điều 33 Luật BHXH 2024, người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nhưng không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không phải đóng BHXH của tháng đó, trừ trường hợp người lao động và người sử dụng lao động có thỏa thuận tiếp tục đóng.
Như vậy, mốc 14 ngày ở đây là 14 ngày không hưởng tiền lương, không phải 14 ngày làm việc.
Công nhân thời vụ làm vài ngày có phải đóng BHXH?
Đây là trường hợp doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý.
Không phải cứ gọi là “công nhân thời vụ” thì đương nhiên được miễn BHXH. Pháp luật hiện hành không đơn giản phân loại theo cách doanh nghiệp gọi người lao động là “thời vụ”, “thời gian ngắn” hay “lao động thời vụ”.
Doanh nghiệp cần xem bản chất quan hệ lao động và hợp đồng đã giao kết.
Ví dụ 3: Thuê công nhân làm 7 ngày để tăng cường sản xuất
Một doanh nghiệp cần tăng nhân sự trong thời gian cao điểm và thuê công nhân C làm việc trong 7 ngày.
Nếu đây thực sự là công việc phát sinh trong thời gian ngắn và quan hệ giữa hai bên không thuộc trường hợp phải tham gia BHXH bắt buộc theo Luật BHXH, thì không thể chỉ dựa vào việc C làm 7 ngày để kết luận phải đóng.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp thiết lập quan hệ lao động thuộc diện BHXH bắt buộc thì việc người lao động chỉ làm một số ngày trong tháng không tự động loại người đó khỏi diện tham gia.
Vì vậy, với lao động thời vụ, doanh nghiệp cần xác định đúng loại hợp đồng và đối tượng tham gia trước khi quyết định có phải đăng ký, đóng BHXH hay không.

Ví dụ 4: Công nhân làm 12 ngày nhưng vẫn có tiền lương theo hợp đồng
Doanh nghiệp D bố trí công nhân làm việc không trọn thời gian, tổng cộng 12 ngày trong tháng. Công nhân vẫn được trả tiền lương theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp không thể lấy lý do “chỉ làm 12 ngày” để mặc nhiên không đóng BHXH nếu người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.
Đây chính là điểm dễ gây nhầm lẫn nhất khi áp dụng quy định 14 ngày.
Vậy khi nào người lao động dưới 14 ngày không phải đóng BHXH?
Cần phân biệt hai tình huống:
Một là, người lao động chỉ có lịch làm việc dưới 14 ngày trong tháng. Trường hợp này phải tiếp tục xem xét người lao động có thuộc diện BHXH bắt buộc hay không, loại hợp đồng và tiền lương làm căn cứ đóng.
Hai là, người lao động thuộc diện BHXH bắt buộc nhưng trong tháng không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên. Khi đáp ứng điều kiện này, người lao động và doanh nghiệp không phải đóng BHXH của tháng đó, trừ trường hợp có thỏa thuận tiếp tục đóng.
Do đó, câu nói “công nhân làm dưới 14 ngày thì không phải đóng BHXH” là chưa chính xác.
Doanh nghiệp thuê công nhân thời vụ cần lưu ý gì?
Để tránh đóng thiếu hoặc xác định sai đối tượng, doanh nghiệp nên kiểm tra từng trường hợp dựa trên:
- Công việc và quan hệ lao động thực tế giữa doanh nghiệp và người lao động.
- Loại hợp đồng được ký kết.
- Thời hạn và nội dung hợp đồng.
- Người lao động có thuộc nhóm tham gia BHXH bắt buộc hay không.
- Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.
- Trường hợp người lao động nghỉ và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng.
Đặc biệt, doanh nghiệp không nên sử dụng cách hiểu đơn giản rằng “làm dưới 14 ngày = không đóng BHXH”, bởi quy định 14 ngày trong Luật BHXH 2024 đang được xác định theo thời gian không hưởng tiền lương.
Cần thuê công nhân thời vụ, lao động ngắn hạn?
Trong thực tế sản xuất, doanh nghiệp có thể phát sinh nhu cầu bổ sung công nhân trong mùa cao điểm, đơn hàng tăng hoặc cần nhân sự trong thời gian nhất định. Khi đó, việc xác định đúng quan hệ lao động và nghĩa vụ BHXH ngay từ đầu giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong quá trình sử dụng lao động.
Cung ứng lao động Human Power cung cấp giải pháp nhân sự cho doanh nghiệp có nhu cầu bổ sung lao động, đặc biệt trong các giai đoạn sản xuất cao điểm. Doanh nghiệp có thể chủ động hơn về nguồn nhân lực và kế hoạch sử dụng lao động theo nhu cầu thực tế.
Căn cứ pháp lý
-
Nguồn pháp lý chính
- Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 – căn cứ quan trọng nhất, có hiệu lực từ 01/07/2025.
Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 – Cổng thông tin Chính phủ - Nghị định 158/2025/NĐ-CP – quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc.
Nghị định 158/2025/NĐ-CP – Cổng thông tin Chính phủ
- Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 – căn cứ quan trọng nhất, có hiệu lực từ 01/07/2025.
Lưu ý: Với công nhân thời vụ chỉ làm vài ngày, không nên kết luận có hoặc không có nghĩa vụ đóng BHXH chỉ dựa trên số ngày làm việc. Doanh nghiệp cần đối chiếu đầy đủ điều kiện của từng trường hợp theo Luật BHXH và văn bản hướng dẫn hiện hành.











